Văn học và điện ảnh -
Những người bạn đồng hành

Đặng Nhật Minh

 

 

Tôi nhớ đã từng đọc ở đâu đó câu nói của một nhà văn rằng: khi anh cảm thấy bất  lực, không thể làm gì khác hơn, anh hãy cầm lấy bút. Tôi không nghĩ các nhà văn khi cầm bút đều ở trong tâm trạng như vậy. Nhưng trong đời tôi, đã có những lần tôi cảm thấy bất lực, không biết làm gì hơn, và tôi đã cầm bút viết một vài truyện ngắn. Một số truyện ngắn đó sau này trở thành cơ sở cho những bộ phim như: Thị xã trong tầm tay, Trở về, Mùa ổi. Tôi bỗng nhiên trở thành người chuyển thể văn học lên màn ảnh.

Từ đó đến nay tôi đã viết tất cả 7 kịch bản phim. Trước đó tôi làm phim theo các kịch bản đã được duyệt sẵn, theo sự phân công của Hãng phim. Viết kịch bản là một việc tôi không có ý định từ trước. Tôi chỉ bắt tay vào viết kịch bản khi nhận thức rằng mình không thể đạo diễn tốt một bộ phim nếu những vấn đề đề cập đến trong phim xa lạ đối với mình, không rung động trái tim mình. Chỉ còn một cách duy nhất là tự viết lấy kịch bản để rồi tự mình thể hiện chúng  lên màn ảnh. Và như vậy tôi đã liên kết công việc đạo diễn và viết kịch bản làm một. Bởi vậy thật khó lòng xác định  trong tôi đâu là kết thúc nhiệm vụ của một người biên kịch và đâu là bắt đầu công việc của một người đạo diễn. Dầu sao sau hơn 30 năm trong nghề tôi có thể đi đến một định nghĩa như sau: viết kịch bản là làm ra một bộ phim trên giấy và làm đạo diễn là làm ra một bộ phim trên màn ảnh. Sự khác biệt của hai quá trình sáng tạo này nằm ở chỗ: một bên là trên giấy và một bên là trên màn ảnh, rồi xuất phát từ đó, ở phương tiện diễn đạt của chúng: một bên là ngôn từ và một bên là hình ảnh. Nhưng cả hai việc làm này là  một quá trình sáng tạo thống nhất, liên tục và vì một mục đích chung, đó là bộ phim tương lai. 

Chúng ta thường nghe những lời than thở rằng sở dĩ không có kịch bản hay nên không có phim hay. Nhưng như thế nào là một kịch bản hay? Ngoài những tiêu chuẩn chung cho bất cứ một tác phẩm nghệ thuật nào, kịch bản điện ảnh cần có môt tiêu chuẩn tối quan trọng: đó là nó phải được viết cho hình ảnh và âm thanh. Có nghĩa là người biên kịch phải biết rằng những gì mình viết ra phải được thể hiện lên màn ảnh bằng hình và bằng tiếng, những gì không phục vụ cho mục đích đó đều thừa thãi và vô dụng. Điều này không có gì là mới lạ cả. Các đạo diễn khi bắt tay vào viết kịch bản phân cảnh chắc thấm thía điều đó hơn ai hết. Chúng ta hiện nay đang thiếu những kịch bản mà khi đọc lên, ta nhìn thấy được trong đó những hình ảnh hiện ra rõ mồn một trên từng trang giấy. Muốn vậy người viết kịch bản phải có cái nhãn quan của người đạo diễn, phải nắm vững đặc trưng của ngôn ngữ điện ảnh - ngôn ngữ của hình và tiếng, ngôn ngữ của nhịp điệu. Mỗi nước có cách nhìn nhận vai trò của người viết kịch bản khác nhau. Tại Liên Xô trước đây, vị trí của người biên kịch điện ảnh được đề cao ngang hàng với nhà văn. Kịch bản điện ảnh được coi như một thể loại của văn học. Trái lại ở các nước phương Tây người ta quan niệm rằng kịch bản điện ảnh càng mang ít chất văn học càng tốt. Nó không phải là một thể loại văn học và càng không liên quan gì đến văn học, nó chỉ có một mục đích duy nhất là cung cấp cho người đạo diễn một không gian điện ảnh với những gợi ý về hình ảnh và âm thanh. Có đạo diễn tuân thủ tuyệt đối những gì đã được viết ra trong kịch bản, nhưng cũng có những đạo diễn khi ra hiện trường chỉ cầm trên tay một kịch bản không quá 3 trang, tất cả đều được sáng tác ngay tại chỗ trước lúc quay. Tại Holywood việc viết kịch bản đã trở thành một công nghệ với nhưng công đoạn khác nhau từ xây dựng cốt truyện, phát triển kịch tính, cho đến việc viết lời thoại, tìm chi tiết v.v... mỗi công đoạn được giao cho những chuyên viên khác nhau đảm nhiệm dưới sự giám sát của nhà sản xuất phim. Nhà sản xuất mới là người chủ thực sự của bộ phim. Trái lại tại các nước châu Âu như Pháp thì tác giả của bộ phim là đạo diễn.

Nhiều lần tôi thắc mắc tại sao khi nhắc đến các phim của đạo diễn Trung Quốc nổi tiếng Trương Nghệ Mưu không mấy ai nhắc đến tên tuổi của các nhà biên kịch. Họ là ai? Có phải các phim đó đều do đạo diễn họ Trương tự mình viết kịch bản? Tôi đã đặt  câu hỏi đó với các đồng nghiệp Trung Quốc và được trả lời như sau: đạo diễn Trương Nghệ Mưu chưa bao giờ viết kịch bản phim. Nhưng ông có những người chuyên viết kịch bản theo yêu cầu và gợi ý của ông. Những kịch bản đó mang đậm phong cách sáng tác của ông, và chúng là sản phẩm của ông. Ông là tác giả duy nhất của những bộ phim do ông làm ra cho dù ông không đặt bút viết kịch bản bao giờ. Ở ta biên kịch điện ảnh là một nghề được coi trọng, kịch bản được coi là chất liệu ban đầu của bộ phim. Gần đây còn có ý kiến cho rằng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước trong điện ảnh chỉ nên trao cho kịch bản (không trao cho bộ phim). Hàng năm Nhà nước đầu tư không ít cho khâu viết kịch bản điện ảnh (tài trợ, tổ chức các trại sáng tác, những chuyến đi thực tế v.v) với hy vọng sẽ có những kịch bản hay. Nhưng kết quả thu được mới chỉ là số lượng chứ chưa phải chất lượng. Thì ra không phải vì không có tiền nên không có kịch bản hay, hoặc ngược lại có nhiều tiền ắt có kịch bản hay. Viết kịch bản là công việc của trái tim và khối óc. Những phát hiện sâu sắc của người nghệ sĩ trước cuộc sống cùng những kiến thức nghề nghiệp thấu đáo mới là những yếu tố quyết định để có những kịch bản điện ảnh hay. Dầu sao một kịch bản hay cũng mới chỉ là một bộ phim hay trên giấy. Từ  trên giấy lên màn ảnh là cả một chặng đường dài, ở đó chủ thể sáng tạo là người đạo diễn. Nhưng một bộ phim hay trên giấy chắc chắn sẽ là cơ sở cho một bộ phim hay trên màn ảnh.

Chúng ta thường nghe nói nhiều về mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh. Dường như giữa hai lĩnh vực này có mối liên hệ bí ẩn nào đó mà những người làm điện ảnh phải khám phá cho mình nếu muốn làm tốt công việc chuyển thể một tác phẩm văn học lên màn ảnh. Qua kinh nghiệm ít ỏi của mình tôi nhận thấy văn học và điện ảnh tuy là những người bạn đồng hành nhưng hai lĩnh vực đó hoàn toàn khác nhau. Như trên tôi đã nói: một bên là chữ nghĩa, ngôn từ và một bên là hình ảnh và âm thanh. Cái khoái cảm có được khi ta đọc một tác phẩm văn học hay, khác cái khoái cảm sau khi ta xem xong một bộ phim hay. Nếu có một điểm chung nào đó giữa văn học và điện ảnh  thì đó là tính thẩm mỹ. Cái cảm quan thẩm mỹ đã liên kết hai lĩnh vực này để trở thành những người bạn đồng hành trên suốt chặn đường dài. Có một lần tôi đã chuyển thể lên màn ảnh một truyện ngắn không phải của mình, truyện Thương nhớ đồng quê của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Cái làm tôi cảm thấy bị mê hoặc trong truyện ngắn ấy chính là tính thẩm mỹ của nó. Trong truyện ngắn đó Nguyễn Huy Thiệp đã cung cấp cho tôi một không gian mà theo tôi rất gần với điện ảnh, và như vậy đối với tôi đã là quá đủ. Những gì chứa đựng trong cái không gian đó nhà văn chỉ phác thảo rất sơ sài, nhưng điều đó không quan trọng. Tôi như người có trong tay một cái bình quý, còn đựng những gì trong cái bình đó là chuyện về sau. Nó cũng quan trọng đấy, nhưng là chuyện về sau. Khi bắt tay vào làm phim này, nhiều người ngạc nhiên hỏi tôi: truyện ngắn ấy sao mà làm thành phim được? Bởi vì ai cũng nghĩ  rằng muốn làm một bộ phim cần phải có một câu chuyện được tổ chức chặt chẽ với đầy đủ kịch tính, xung đột v.v... xuất phát từ nếp nghĩ quen thuộc:  không có bột (câu chuyện) không thể gột nên hồ (bộ phim) mà quên rằng cả văn học lẫn phim ảnh, tính thẩm mỹ mới là cái quan trong hàng đầu. Thẩm mỹ có lẽ là một phạm trù mơ hồ và trừu tượng nhất trong các phạm trù. Nói đến thẩm mỹ là động đến thị hiếu (cái gout). Mỗi người có một thị hiếu riêng, một cái “gu” riêng, một quan niệm riêng về thẩm mỹ, không ai giống ai. Phải chăng vì vậy mà ít ai muốn bàn tới nó? Thiết  nghĩ dù làm điện ảnh, hay cầm bút viết văn, thì thẩm mỹ bao giờ cũng là cái đích cuối cùng. Trong ba tiêu chí của văn học, nghệ thuật: Chân, Thiện, Mỹ thì Mỹ có lẽ là cái khó đạt tới nhất.

 

 

Lên trang viet-studies ngày 6-1-12