|
Nguồn:
Diễn Đàn online
Xin được đối thoại với
Vũ Quang Việt
I. Trao đổi về vấn đề trách nhiệm
Tôi không phải là nhà giáo, mà là người nghiên cứu kinh tế, chủ yếu là thống kê kinh tế, nhưng có quan tâm đến giáo dục Việt Nam, chỉ vì một lý do duy nhất là trong nhiều năm theo dõi các cuộc tranh luận về giáo dục, các phản ánh trên báo chí về chất lượng thấp và sự gian dối trong giáo dục quá ư là không chấp nhận được, do đó tôi đã cố gắng tìm hiểu vấn đề qua thống kê, nhất là thống kê so sánh.
Cho đến nay, nhiều số liệu ở Việt Nam đã được công bố, nhưng số liệu về thu chi cho giáo dục thì vẫn chưa được minh bạch hoá và có lẽ chưa được kiểm toán độc lập. Ngân sách cho giáo dục đã được Bộ công bố trên mạng, nhưng lại quá ư thiếu chi tiết. Dù thế nào thì những số liệu này cũng giúp tôi có một cái nhìn khách quan hơn. Cho đến nay, rất tiếc là chưa có một công trình đánh giá độc lập và đáng tin cậy của giới chuyên gia về chi thu của từng trường, từng tỉnh, và cả nước và loại học sinh được nhận vào trường (qua thi hoặc qua các cửa khác như tại chức, chuyên tu) để có thể phân tích cho rõ vấn đề, nhằm làm cơ sở cho việc cải cách, nâng cao chất lượng sử dụng đồng tiền của dân, qua đóng thuế và đóng học phí. Không thể đặt vấn đề tăng học phí khi chi tiêu chưa được minh bạch hoá, chưa được kiểm toán độc lập, chưa được phân tích đầy đủ. Vụ Kiểm toán mới đây của Kiểm toán Nhà nước cũng cho thấy là đã có hiện tượng không tốt như việc sử dụng 53,6 tỷ đồng của kinh phí khoa học và công nghệ để làm chuyện khác, 14/32 tỉnh phân bổ và giao dự toán một số khoản chi cho sự nghiệp giáo dục và khoa học và công nghệ thấp hơn Trung Ương dự toán là 782 tỷ, cũng như lấy tiền từ chương trình kiên cố hoá trường học cho vay lãi hoặc dùng làm chuyện khác.
Chính vì lý do này mà tôi xin phép được đối thoại với Phó Thủ tướng về những điều ông phát biểu trên báo Sài Gòn Giải Phóng (10/9/2007) http://www.sggp.org.Việt Nam/giaoduc/2007/9/120193/ về vấn đề tăng học phí. Những số liệu tôi dùng là số liệu chính thức của nhà nước hoặc Việt Nam, Mỹ hay Trung Quốc. Những gì do tôi ước lượng tôi đều nói rõ và nếu yêu cầu tôi sẽ cung cấp.
Trao đổi về giải pháp cho giáo dục phải bắt đầu từ việc xác định quan niệm về giáo dục. Nếu không thế thì việc bàn về giải pháp sẽ không phù hợp vì quan niệm đã khác thì giải pháp tất khác. Trước tiên tôi xin bày tỏ về cách nhìn của hầu hết các nhà kinh tế thị trường về giáo dục. Giáo dục hay bất cứ dịch vụ nào cũng là hàng hoá theo cách nhìn của chúng tôi. Hầu hết các hàng hoá được trao đổi theo dạng “tiền trao cháo múc”. Có tiền thì mua, không thì thôi, và ai mua thì người đó hưởng. Nhưng dịch vụ bảo vệ an ninh quốc gia thì vô hình, không thể mua bán được, và nếu một người trả thì những người không trả cũng được hưởng an ninh. Do đó giải pháp là dân bị đóng thuế, bị bắt đi lính nếu cần để bảo vệ an ninh. Chính quyền thực hiện trách nhiệm xã hội này.
Giáo dục cho trẻ em còn tuổi vị thành niên cũng gần như thế, chúng làm gì có tiền để “tiền trao cháo múc”, chúng được giáo dục thì cả xã hội được nhờ. Nếu có mua, thì cha mẹ chúng phải mua, chứ không phải chính đứa trẻ. Có thể ta cho rằng đứa trẻ không mua được thì bố mẹ chúng phải làm và do đó giáo dục là trách nhiệm gia đình. Nếu chấp nhập lập luận này thì xã hội đã từ nhiệm với con người vì xã hội nào cũng có rất nhiều cha mẹ nghèo dù họ có muốn mua cũng không có khả năng. Dịch vụ giáo dục lại cũng vô hình, không thể biết ngay chất lượng nên không thể dễ dàng xem xét chi phí có xứng đáng với kết quả nhận được không, và ảnh hưởng của giáo dục thì dài lâu cho toàn xã hội, do đó cần có vai trò của xã hội trong việc đặt ra tiêu chuẩn để kiểm tra.
Xã hội phải nhận trách nhiệm chi trả cho giáo dục trẻ em vị thành niên để tạo ra sự bình đẳng về điều kiện ban đầu cho mọi người trong xã hội bằng cách thu thuế. Và cũng vì lợi ích xã hội, không thể để trẻ em thất học. Đây là điều cơ bản mà ta cần nhìn nhận. Ở nước nào cũng thế, dù là tư bản hay không, giáo dục cho thanh thiếu niên còn tuổi vị thành niên, chưa thể tự quyết định cho mình, thì nhà nước tổ chức trường công miễn phí, hoặc mới đây có hiện tượng là nhà nước trả phí tương đương và để cha mẹ học sinh tự chọn trường. Đây là đường hướng cơ sở, có thể gọi là là “định hướng xã hội chủ nghĩa” hay trách nhiệm xã hội mà nhà nước phải thực hiện. Nếu như nhà nước Việt Nam chỉ có khả năng chi trả cho giáo dục tiểu học, hay nhà nước Trung Quốc chỉ có thể chi trả cho giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, và do đó có thu học phí ở cấp khác, thì lộ trình vẫn đòi hỏi học phí cho giáo dục cơ sở cho đến hết cấp trung học phổ thông phải từ từ giảm cho đến khi có thể miễn phí toàn bộ. Chính Trung Quốc đã tuyên bố xoá thu học phí cho giáo dục cơ sở vào năm 2007 này, dù học phí của họ chỉ bằng 20% chi phí.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói rõ về trách nhiệm xã hội này (Sài Gòn Giải Phóng, 10/9/2007): http://www.sggp.org.Việt Nam/giaoduc/2007/9/120017/ “…nền giáo dục của ta là nền giáo dục của dân, vì dân, do dân. Dân chủ và công bằng là tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, trước hết phải được thể hiện trong giáo dục và y tế, hai lĩnh vực trực tiếp bồi dưỡng con người. Bác Hồ mong muốn “ai cũng được học hành”. Vì vậy, xu hướng đúng đắn là phải tiến tới bỏ học phí. Nhiều nước tư bản cũng đã bỏ học phí ở cấp phổ thông, có nước bỏ học phí ở cấp đại học. Đất nước Cuba còn nhiều khó khăn vẫn kiên trì thực hiện học tập và chữa bệnh miễn phí.”
II. Trao đổi về tính hợp lý
Đối thoại lại: Đây là so sánh không hợp lý. Chỉ có thể so sánh một cách hợp lý bằng cách so sánh dựa trên tỷ lệ GDP chi cho giáo dục. Mỹ chi cho giáo dục 7,2% còn ta chi hiện nay ít nhất là 8,3% GDP, cao hơn cả Mỹ.
Con số 8,3% này từ đâu mà ra? Từ hai nguồn, nguồn ngân sách và nguồn ước lượng dân đóng cộng lại. Tổng chi cho giáo dục gần 4,8 tỉ $US vào năm 2006, trong đó 3,45 tỉ $US là từ ngân sách nhà nước (con số chính thức) và 1,3 tỷ do nhân dân đóng góp thêm, dựa theo ước đoán là 21 triệu học sinh bình quân đóng 63 $US hay 1 triệu đồng một năm (sinh viên đại học 150 $US/năm, mẫu giáo 100 $US /năm, phổ thông 50 $US/năm).
So sánh với Mỹ có thể vẫn khó chấp nhận dù là so qua tỉ lệ như thông lệ quốc tế, vậy ta hãy thử so sánh với Trung Quốc. Họ chi trung bình cho một học sinh là 332 $US một năm, so với Việt Nam là 227 $US. Tất nhiên so sánh này cũng còn khập khiễng vì thu nhập trên đầu người Trung Quốc gấp 3 Việt Nam (2 055 $US so với 643 $US), và giá cả mắc hơn Việt Nam khoảng 20%. Nhưng như vậy cũng cho thấy là về con số tuyệt đối, sau khi điều chỉnh giá, Việt Nam không thấp hơn nhiều so với Trung Quốc. Hơn thế, dân đóng góp qua học phí và phụ phí ở Trung Quốc chỉ khoảng 20% chi phí, so với 40% ở Việt Nam. Trung Quốc lại mới tuyên bố là sẽ xoá bỏ hoàn toàn học phí và phụ phí ở cấp phổ thông cưỡng bách.
Tỉ lệ ngân sách nhà nước Việt Nam chi cho giáo dục đã lên tới 6% GDP năm 2006. Không kể dân đóng thêm, nhà nước ta đã chi cho giáo dục với một tỷ lệ có thể so sánh với tỷ lệ trung bình của các nước phát triển cao trên thế giới. Chi phí ngân sách cho giáo dục của ta lại tăng rất nhanh, năm 2007 bằng hơn bốn lần năm 2001, vì mỗi năm bình quân tăng 27%. Nếu so với Trung Quốc, ngân sách chỉ khoảng 2,8% GDP và tỷ lệ này vẫn chưa thay đổi, thì nhà nước Việt Nam đúng là đã đặt giáo dục lên hàng đầu, tất nhiên là chỉ trong vấn đề chi cho nó, chứ chưa phải trong vấn đề điều hành và quản lý nó để đạt hiệu quả. Trung Quốc chi ít hơn, nhưng không ai có thể nói là giáo dục Trung Quốc thua kém giáo dục Việt Nam. Vậy thì để cải cách giáo dục và tăng chất lượng giáo dục, hãy làm một cuộc đánh giá toàn diện về quản lý và chi tiêu trước đã, và điều này Bộ giáo dục cần minh bạch hoá toàn bộ chi phí về giáo dục. Việc đánh giá cần phải thông qua một uỷ ban gồm các chuyên gia về giáo dục, kinh tế và tài chính độc lập. Không có đánh giá thì không thể cải cách được. Chỉ nhằm tăng chi thì chỉ làm phí tiền của dân.
III. Trao đổi về trách nhiệm
Đối thoại lại: Điều 59 của Hiến pháp ghi: “Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.” Cho nên điều Phó Thủ tướng phát biểu là hoàn toàn đúng đắn. Tất nhiên tôi còn băn khoăn một điều, tại sao Hiến Pháp lại không ghi là mẫu giáo là bắt buộc. Tôi chỉ có thể hiểu được nếu mẫu giáo là nhà trẻ, và lớp 1 mới là lớp đầu tiên học chữ. Nếu ngay lớp mẫu giáo đã học chữ thì con nhà nghèo đã thua ngay từ lớp 1. Ngoài ra, còn có vấn đề cần thực hiện là xoá bỏ tất cả những biến chứng của học phí như các khoản đóng góp, từ lo xây dựng trường cho đến vệ sinh, v.v. Con tôi học ở trường công Mỹ, ở cấp cưỡng bách, cũng không phải đóng một đồng. Học sinh gia đình nghèo lại được cấp phiếu ăn trưa. Hoạt động của Hội phụ huynh hoàn toàn có tính cách đóng góp tự nguyện, bằng thì giờ chứ không bằng tiền, còn bằng tiền thì ai đóng bao nhiêu vào một hoạt động nào đó thì tùy, và hầu hết là không đóng. Vậy thì nên xoá bỏ trò ép đóng bằng cách nhân danh đa số. Đây là chuyện nhỏ nhưng không hẳn nhỏ.
Chuyện lớn là đề nghị của Phó Thủ tướng lập ra các
trường công cho gia đình nào muốn trả tiền để được học tốt hơn so
với miễn phí. Ý kiến này rõ ràng là phân biệt đối xử người nghèo và
người giầu. Cũng là trường công cả, nhưng có tiền thì vào chỗ tốt
không có tiền thì vào chỗ tệ. Công lý ở chỗ nào? Nhiệm vụ của nhà
nước có tính xã hội là cố gắng tạo ra cơ chế bình đẳng cho mọi công
dân. Tôi chưa thấy một nước tư bản nào làm chuyện này. Đã là trường
công của nhà nước thì mọi công dân phải được đối xử ngang nhau, và
có cùng cơ hội giống nhau. Ở các nơi, cũng có trường công với chất
lượng đặc biệt tốt, có thể gọi là trường chọn, nhưng mọi học sinh
đều có quyền thi vào, và khi vào thì vẫn không bị đóng học phí. Ở
thành phố New York nơi tôi đang ở cũng có một số trường như thế.
Nguyên tắc bình đẳng trong Hiến pháp của ta không cho phép một nhà
nước thực hiện điều ông chủ trương. Đây là điều vi hiến. Ông có phát
biểu: “Khó khăn thứ 2 là những người có thu nhập cao hơn, muốn
đóng tiền nhiều hơn để con họ đi học trong điều kiện tốt hơn thì nó
lại vượt khung, trường không thu được.” Đây đâu có phải là điều
khó khăn. Điều 36 Hiến pháp cho phép lập trường tư. Những người có
tiền có thể lựa chọn học trường tư chất lượng cao.
Về dự kiến áp dụng học phí khác nhau, Phó Thủ tướng tuyên bố: Dự kiến sẽ có khoảng 20% người dân trong 1 địa phương có nhu cầu được miễn, giảm học phí. Với nhóm gia đình có thu nhập cao hơn mức bình quân của địa phương, mong muốn đóng góp mức học phí cao hơn để con em họ học ở những trường có chất lượng tốt hơn chuẩn tối thiểu thì nhà nước cho phép có trường chất lượng cao thu phí cao hơn. Tuy nhiên, tỉ lệ các trường thu phí cao phải nhỏ và sẽ điều chỉnh tùy vào tín hiệu của cuộc sống, nếu có nhu cầu lớn hơn thì mở rộng.
IV. Trao đổi về sự cần thiết của học phí đại học
Qua số liệu Trung Quốc công bố (còn Việt Nam thì không), tôi tính được là chi phí giáo dục một sinh viên đại học một năm là 1 277 $US, trong đó ngân sách bỏ ra là $612, học phí là $368, phần còn lại là từ quỹ đoàn thể xã hội. Việt Nam chắc là thấp hơn nhiều nhưng Bộ giáo dục không công bố số liệu để tính, còn Phó Thủ tướng thì chỉ đưa ra học phí là $150/năm, chứ không đưa ra chi phí nhà nước.
Xem xét kỹ, ta thấy rõ là Trung Quốc đã phát triển giáo dục có chọn lọc và họ đã đặt kế hoạch xoá bỏ truyền thống giáo dục bắt chước Liên Xô, tập trung các trường nhỏ một ngành vào trường đại học đa ngành, kết hợp nghiên cứu và giảng dậy tại trường, và tập trung xây dựng một số trường có nghiên cứu có tầm quốc tế. Tôi sẽ không thể đi vào chi tiết.
Tôi thấy họ đặt vấn đề quý hồ tinh, mặc dù không quên mở rộng. Do đó mà hiện nay họ thua ta về lượng. Họ chỉ có 1,1% dân số là sinh viên đại học còn ta đã lên đến 1,6%, tức là gần gấp rưỡi họ. Tức là ta phát triển quá nhanh, mở đại trà, cho bằng thoả thuê mọi người, bất kể chất lượng. Nếu theo kế hoạch ông đặt ra trước đây là tăng tỉ lệ sinh viên trên dân số lên 2% vào năm 2010 thì tôi nghĩ rằng mình đang đi theo con đường phá sản giáo dục. Hãy kiếm cách tăng chất lượng lên, trước khi đặt vấn đề số lượng. Tôi hết sức kinh ngạc khi nhìn thấy số sinh viên trong các đại học Việt Nam: Đại học Quốc gia TPHCM 81 ngàn, Đại học kinh tế TPHCM 34 ngàn, Đại học Huế 81 ngàn, Đại học Đà Nẵng 52 ngàn, Đại học mở Hà Nội 46 ngàn, Đại học Thái Nguyên 34 ngàn, v.v. Đây là những đại học vào hàng khổng lồ nhất thế giới. Ở Mỹ, đại học lớn nhất là Arizona State cũng chỉ có khoảng 52 ngàn sinh viên. Các đại học hàng đầu của Mỹ chỉ khoảng 15 ngàn. Tôi không hiểu trong mỗi đại học Việt Nam có bao nhiêu sinh viên là chính khoá, còn bao nhiêu là tại chức, chuyên tu, v.v. Số lượng đại học và cao đẳng cũng mọc ra như nấm, hiện nay con số chính thức là 322. So với Trung Quốc thì số lượng của ta này bằng 17% của họ nhưng dân số thì chỉ bằng 6,7%. Như vậy, rõ ràng là ta chạy theo số lượng, và do đó thiếu tiền, mà lại còn thiếu kiểm soát, thiếu lãnh đạo, thiếu hướng phát triển do đó thiếu chất lượng. Tôi nghĩ nhà nước ta nên đánh giá lại phương hướng phát triển giáo dục đại học, thay vì chỉ nhằm tăng trường, tăng sinh viên với mục đính chính là tăng thu nhập cho người làm công tác giáo dục. Những người học chuyên tu, tại chức nên cấp chứng chỉ chứng minh lòng hiếu học, muốn hiểu biết thêm của họ, thay vì cho bằng.
Về trả học phí đại học, Phó Thủ tướng tuyên bố: …Vì vậy, phải tạo một đột phá trong tài chính cho giáo dục đại học, thay vì trả học phí thấp theo mức thu nhập hiện tại của quốc gia và người dân thì chúng ta phải trả học phí ở mức đảm bảo chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội, đa số người ra trường phải có việc làm và thu nhập khá. Mức thu nhập này cho phép trả lại số tiền đã vay để trả học phí trước đó. Tức là lấy thu nhập của tương lai cao hơn rất nhiều so với học phí hiện tại để trả học phí ở mức có chất lượng đào tạo cao. Đối với bậc đại học, nếu không tăng học phí thì không thể giải quyết được vấn đề chất lượng… Để đột phá về cơ chế tài chính cho giáo dục đại học, ngày 4-9-2007, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị cho vay để trả học phí. Sau 5 năm, tôi tin là hệ thống giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề sẽ có bước phát triển mạnh mẽ. Học phí phổ thông và đại học, cao đẳng, dạy nghề khác nhau và phải được quyết định với quan điểm khác nhau.
Đối thoại lại: Tăng học phí đại học cộng với chính sách cho vay là điều tôi có thể dễ dàng đồng ý với Phó Thủ tướng, nhưng tăng học phí không nhất thiết đưa tới chất lượng cao. Phân tích so sánh ở trên của tôi đã cho thấy nhiều bất cập quá lớn của đại học Việt Nam, cần chấn chỉnh và phải có lộ trình chấn chỉnh. Quan trọng nhất là đại học phải có tự chủ về tài chính, phải có tự chủ về tư duy, về quyết định chương trình và nội dung giảng dạy và về bổ nhiệm giáo sư theo quy định về yêu cầu tối thiểu của nhà nước. Và đại học phải được đánh giá, xem xét đối với từng khoa về việc đủ tư cách cấp bằng dựa trên tiêu chuẩn quốc tế nhất định. Ông cần đưa ra một lộ trình cải cách giáo dục đại học. Việc cho vay cũng không đơn giản mà phải có nhóm chuyên gia tài chính và giáo dục ngồi lại lập dự án và theo dõi thực hiện.
Để tóm tắt những trao đổi của tôi, tôi đề nghị là nhà nước ta nên thành lập một ủy ban gồm cả các nhà giáo dục, kinh tế tài chính, xã hội học có khả năng chuyên môn, có kinh nghiệm và uy tín, trong và ngoài nước, kể cả người nước ngoài, đánh giá hệ thống giáo dục hiện nay và đề ra một số giải pháp để nhà nước chọn lựa. Chúng ta không nên tiếp tục đưa ra một giải pháp để dân góp ý trong khi chẳng có một nghiên cứu cơ bản và đáng tin cậy nào.
17-9-07 |